Episodios

  • Cơn sốt tiêu dùng khiến bột trà xanh matcha trở nên khan hiếm
    Jan 9 2026
    Trong những tuần lễ đầu tháng Giêng, người Pháp thường có truyền thống ăn Bánh Ba Vua « Galette des Rois » nhân mùa lễ Hiển Linh « Épiphanie ». Năm nay, ngoài các hương bánh phổ biến như hạnh nhân, quả táo hay hồ trăn, còn bắt đầu xuất hiện loại bánh galette nhân trà xanh matcha. Thế nhưng, loại bánh này không hề rẻ, gần 60 euro một ổ bánh 8 phần, do trà xanh matcha đang rơi vào tình trạng khan hiếm nguồn cung. Matcha là loại bột trà xanh được làm bằng lá trà non (tencha) phơi khô, loại bỏ phần cuống và gân lá, rồi dùng cối đá để nghiền nhuyễn, xay mịn. Nổi tiếng là rất tốt cho sức khỏe, bột trà xanh matcha đã nhanh chóng trở thành biểu tượng của lối sống lành mạnh, được sử dụng rất nhiều trong ngành ẩm thực. Cô Andie Ella là một người gây ảnh hưởng ở Pháp với hơn nửa triệu người đăng ký theo dõi tài khoản trên mạng xã hội. Trên kênh truyền hình France 24, cô cho biết cơn sốt trà matcha không phải là điều mới mẻ, nhưng các trào lưu trong giới tiêu dùng đã tăng nhanh gấp bội, nhờ tốc độ lan truyền của các mạng xã hội : « Theo tôi, matcha trở nên thịnh hành phổ biến chủ yếu nhờ vào các mạng xã hội. Đầu tiên hết, màu sắc của matcha khá bắt mắt nên dễ thu hút giới thích chụp ảnh trên Instagram. Thật vậy, loại bột trà màu xanh nhuyễn mịn này, khi được khuấy đều hay được pha với sữa, tạo ra nhiều thức uống đẹp mắt, chỉ cần nhìn thoáng qua là người ta bỗng dưng thèm ngay, muốn uống thử loại trà này. Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng là một điểm đến hấp dẫn trong mắt nhiều khách du lịch quốc tế. Hai hình ảnh bổ sung cho nhau, làm tăng thêm nét quyến rũ của matcha. Cuối cùng, matcha càng trở nên phổ biến vì thức uống truyền thống của Nhật Bản rất hợp với các xu hướng đề cao lối sống lành mạnh hiện thời : ẩm thực giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, làm đẹp làn da, gìn giữ sức khỏe. Bột trà xanh của Nhật Bản đáp ứng các tiêu chuẩn này. » Sau vài chuyến đi Nhật Bản, cô Andie Ella đã cho ra mắt thương hiệu « Milia Matcha », sử dụng loại trà xanh Okumidori với nhiều mùi thơm tự nhiên và hầu như không có vị đắng, được sản xuất tại miền nam quần đảo Nhật Bản. Bột trà xanh matcha giờ đây được khai thác dưới nhiều hình thức : ngoài các thức uống pha sữa (matcha latte) hay trân châu (bubble tea) còn có nhiều món tráng miệng như mochi, bánh flan, kem trà xanh... Giờ đây lại có thêm nhiều loại mỹ phẩm cũng như kem dưỡng da kết hợp với bột trà matcha. Theo nhà sản xuất người Nhật Masahiro Okutomi sống trong một gia đình trồng trà từ 15 đời qua, sự khai thác quá mức này có nguy cơ tạo ra tình trạng khan hiếm, do nguồn cung không đuổi kịp mức cầu. « Với tư cách là một người chế biến matcha, tôi rất vui mừng khi thấy bột trà xanh Nhật Bản thu hút được nhiều sự chú ý như vậy. Có thể nói là có rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới, dù không hẹn nhưng đều cùng quan tâm đến matcha của Nhật Bản. Tuy nhiên, mọi chuyện đang trở nên căng thẳng, nhu cầu của người tiêu dùng không ngừng gia tăng, tạo ra nhiều sức ép lên ngành sản xuất matcha : từ các nhà trồng trọt cho đến các gia đình thu hoạch trà xanh để sản xuất bột trà. Trước mắt, chuỗi cung ứng đang bị đe dọa, có nguy cơ bị thiếu hụt sản phẩm. Bản thân tôi cũng đang chịu nhiều áp lực và trong ngắn hạn, tôi cảm thấy dù có cố gắng cách mấy, tôi vẫn không thể đáp ứng nổi nhu cầu ngày càng lớn từ người tiêu dùng. » Theo ông Shigehito Nishikida, nhà quản lý tiệm trà Jugetsudo nằm tại khu phố trung tâm Tsukiji ở Tokyo, cửa hàng này đang tìm cách hạn chế lượng trà trong mỗi lần mua bán. Trong vài năm qua, cơn sốt ghiền matcha ngày càng tăng mạnh, do nhiều khách hàng muốn mua thêm matcha để tự pha ở nhà, sau khi xem các đoạn video trên TikTok. Theo kênh truyền hình France 24, thị trường toàn cầu đang bị ảnh hưởng vì người tiêu dùng đang thay đổi thói quen dùng trà matcha. Chỉ trong năm qua, mức sản xuất đã không theo kịp đà tăng của mức cầu, khiến giá matcha đã tăng hơn 170% ...
    Más Menos
    9 m
  • Nhìn lại 60 năm đường hầm Mont-Blanc: Xuyên núi, bắc cầu tình hữu nghị Pháp - Ý
    Jan 7 2026
    Cách nay 60 năm, ngày 16/07/1965, tổng thống Pháp Charles de Gaulle và lãnh đạo Ý Giuseppe Saragat đã khánh thành tuyến đường hầm xuyên núi, dài 11,4km, bên dưới đỉnh Aiguille du Midi, trong dãy núi Mont Blanc. Giấc mơ xuyên núi kéo dài hai thế kỷ, không chỉ thể hiện những tiến bộ về kỹ thuật trong nửa đầu thế kỷ 19, mà còn phản ánh quan hệ Pháp – Ý trong chiều dài lịch sử đầy biến động. Vào năm 1787, nhà tự nhiên học người Thụy Sĩ Horace-Bénédict de Saussure từng tiên đoán: “Sẽ đến ngày người ta khoan một con đường dưới chân Mont-Blanc”, theo trích dẫn trong bài luận án của tiến sĩ lịch sử Stéphane Mourlane, trường đại học Nice Sophia - Antipolis. Lúc đó, vấn đề kỹ thuật là một thách thức lớn và giấc mơ này khó khả thi. Đến giai đoạn những năm 1840-1850, ý tưởng nối Chamonix và Courmayeur đã được nêu lại nhằm xóa bỏ sự cô lập của các thị trấn ven núi biên giới giữa hai nước. Năm 1844, luật sư Laurent Martinet đã mô tả một đường hầm dài 12 km, giữa Boissons (Pháp) và Entreves (Ý). Ý tưởng này đã được cụ thể hóa bởi kỹ sư Joseph Alby, thuộc trường Ecole Centrale de Paris, bảo đảm có thể thực hiện được, với các thiết bị khoan hiện đại hơn. Hai thế kỷ đầy khúc mắc chính trị Thế nhưng, phải mất gần hai thế kỷ sau đó, giấc mơ đó mới thành hiện thực bởi những rối ren chính trị. Vào tháng 07/1965, đường hầm xuyên dãy núi Alps dưới đỉnh Mont-Blanc, ngọn núi cao nhất châu Âu, mới chính thức được khánh thành, khép lại một trang sử đầy trắc trở trong lịch sử giữa Pháp và Ý. Cụ thể, dãy Mont-Blanc trở thành biên giới tự nhiên giữa Pháp và Ý ngay sau khi nước Ý thống nhất và vùng Savoie được sáp nhập vào Pháp vào năm 1860. Tuy nhiên, lúc đó, ý tưởng về việc khoan một đường hầm xuyên núi bị phe bảo thủ coi là một hành động « mở cửa biên giới », khó được chấp nhận. Trong khi đó, Ý lại tập trung vào dự án hầm Gothard để kết nối với Đức, thay vì hợp tác với Pháp. Vào năm 1882, khi Ý chính thức gia nhập liên minh quân sự với Đức và Áo-Hung, quan hệ Pháp - Ý bước vào giai đoạn căng thẳng, khiến mọi kế hoạch hợp tác đều bị đình trệ. Phải đến cuối thế kỷ 19, quan hệ hai nước được cải thiện mới tạo điều kiện để tái khởi động ý tưởng xây hầm. Các cuộc gặp ngoại giao cấp cao và đề xuất kỹ thuật khả thi từ kỹ sư Monod đã mở ra hy vọng. Tuy nhiên, mâu thuẫn ngân sách, tranh chấp thương mại và chiến dịch quân sự của Ý tại Libya lại khiến dự án rơi vào bế tắc. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất tiếp tục làm đình hoãn mọi tiến trình. Giai đoạn giữa hai cuộc đại chiến thế giới, ý tưởng về đường hầm Mont-Blanc gần như bị lãng quên bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít và căng thẳng Pháp - Ý dưới thời Mussolini. Khi Ý tuyên chiến với Pháp năm 1940, hy vọng về một dự án chung hoàn toàn tan vỡ. Chỉ sau Đệ Nhị Thế Chiến, trong bối cảnh châu Âu tái thiết, dự án này dần trở lên khả thi hơn. Từ năm 1946, doanh nhân Ý Dino Lora Totino cùng các đội ngũ chuyên môn về kỹ thuật của hai nước khởi động lại nghiên cứu dự án hầm xuyên núi. Dù vẫn gặp trở ngại tài chính, một hội nghị liên chính phủ năm 1949 đã thống nhất chọn Mont-Blanc làm vị trí khoan hầm. Trả lời trang RCF, nhà sử học Stéphane Mourlan nhấn mạnh rằng “đòn bẩy thực sự để thực sự để triển khai dự án là việc Hiệp ước Roma được ký vào ngày 25/03/1957, thiết lập thị trường chung châu Âu, tạo điều kiện thúc đẩy trao đổi thương mại Pháp Ý.” Trong bối cảnh châu Âu thúc đẩy xây dựng một khối thống nhất, công trình đã được khởi công vào ngày 08/01/1959. Tổng thống Pháp lúc đó, Charles de Gaulle, coi dự án Mont-Blanc là biểu tượng của “tình hữu nghị đặc biệt” giữa hai dân tộc và là điểm tựa để đẩy mạnh liên kết chính trị châu Âu. Trong buổi lễ khánh thành, tổng thống Ý Giuseppe Saragat khẳng định : Đường hầm này thống nhất hai dân tộc chúng ta và quan trọng hơn là hiệp ước hữu nghị, liên minh hoặc cam kết về ...
    Más Menos
    9 m
  • Thế Sơn: 40 năm vẫn gắn bó với sân khấu hải ngoại
    Dec 28 2025
    Ngày 28/09/2025, nam ca sĩ Thế Sơn từ Hoa Kỳ đã sang Paris để trình diễn trong chương trình kỷ niệm 30 năm định cư tại Pháp của nữ ca sĩ Lệ Thu Nguyễn. Chuyến lưu diễn tại Pháp lần này cũng đánh dấu 40 năm sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn, vốn đã nổi tiếng từ khi còn ở Việt Nam và sau khi đến Hoa Kỳ định cư đã cộng tác trong suốt nhiều năm với các trung tâm Thúy Nga và Asia, trở thành một tên tuổi quen thuộc trên các sân khấu hải ngoại. Nhân dịp sang Paris, Thế Sơn đã dành cho RFI Việt ngữ một bài phỏng vấn sau đây: Hôm nay RFI Việt ngữ rất vui mừng được tiếp chuyện với nam ca sĩ Thế Sơn tại Paris. Trước tiên Thế Sơn xin kính chào quý vị khán thính giả của RFI và xin mến chào anh Thanh Phương. Đây không biết là lần thứ bao nhiêu rồi Thế Sơn đến với thủ đô nước Pháp. Đối với Thế Sơn, Paris chắc không có gì xa lạ? Kính thưa quý vị, Thế Sơn rất yêu mến Paris ngay từ khi còn ở Việt Nam và Thế Sơn cũng có rất nhiều họ hàng định cư ở Paris trước đây rất lâu. Sơn cũng có may mắn là trước đây cộng tác với Paris by night, cho nên qua thu hình cũng như qua trình diễn tại Paris rất nhiều. Thế Sơn học Lasan Taberd, lúc đó không còn chương trình Pháp nữa mà là chương trình Việt, nhưng Sơn học sinh ngữ là Pháp văn. Sơn rất thích nhạc Pháp, rất thích phát âm tiếng Pháp, tại vì Sơn thấy Pháp ngữ phát âm rất là gọn, rất là bén, nghe hay lắm, êm tai lắm! Bây giờ trở lại từ khởi đầu sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn. Lúc đầu chắc là Thế Sơn đâu có tính chọn con đường ca nhạc, vì hình như là trước đây Thế Sơn học trường Trung học Sư phạm? Thưa anh và thưa quý vị, trong dòng họ Thế Sơn, ai cũng đi theo con đường học vấn. Đa số đều thành tài ở những lĩnh vực như kỹ sư, bác sĩ. Gia đình đều hướng con cái đi theo con đường học. Nhưng có thể là do duyên Trời hay đó là một cái nghiệp, trong họ hàng chỉ có mình Thế Sơn là rẻ qua đường ca nhạc thôi. Lúc đầu ba má Sơn cũng không ủng hộ. Má Sơn là giáo viên thành ra bà rất mẫu mực, vẫn còn theo xưa, bà không có thích giới văn nghệ, nên không ủng hộ Sơn vô con đường ca hát. Nhưng mà như Sơn đã nói, chính cái nghiệp cái duyên đưa đẩy Sơn vô con đường ca hát vào năm 1985. Vậy thì cơ duyên nào đã đẩy Thế Sơn vào con đường này? Khi Thế Sơn học Trung học Sư phạm, nhân dịp sinh hoạt hè ở Duyên Hải Cần Giờ khoảng năm 83, 84, buổi tối buồn không biết làm gì hết, cả lớp kéo nhau ra ngoài trời, đốt lửa trại rồi cầm đàn nghêu ngao hát, văn nghệ văn gừng với nhau. Thì Sơn cầm đàn và hát bài "Đó! Quê hương tôi" của Vĩnh Điện, thì bạn bè trong lớp ai cũng thích hết và thích giọng hát của Sơn. Có một thằng bạn thân nói: “Giọng mày hay lắm, học thêm thanh nhạc, luyện thêm là làm ca sĩ được”. Thì từ đó nó gieo vào đầu Sơn một tư tưởng là đi làm ca sĩ, chứ từ trước đến giờ Sơn chỉ hát chơi thôi và tánh mình cũng nhút nhát nên không nghĩ tới chuyện ra trước đám đông để trình diễn. Sơn đi học ngoài giờ ở nhạc viện, thì cũng rất may mắn có người thầy tên là Bùi Trần Tiến cũng thích giọng của Thế Sơn lắm, cho nên gợi ý với Thế Sơn là nếu muốn thi vô trường nhạc chính quy thì tới nhà thầy, thầy sẽ luyện thi miễn phí để thi đậu vô trường nhạc. Sơn nghe lời thầy và tới để thầy luyện, rồi sau đó thi đậu vô trường nhạc. Đó là lúc bắt đầu nghiệp ca hát luôn. Chúng tôi được biết là trong trường nhạc, Thế Sơn được dạy hát opera chứ không phải là hát nhạc pop như bây giờ. Như vậy là lúc đầu, đối với một người tuy có giọng ca bẩm sinh, có phải mất rất nhiều công sức để luyện tập hát được opera không? Opera là một môn nghệ thuật về ca hát rất khó. Có những người luyện cả đời cũng không được, vì không có giọng, không có giọng Trời cho. Lúc Sơn bắt đầu học, vì từ trước giờ mình hát giọng tự nhiên, nên không cảm nhận được thể loại opera. Lúc đó Sơn không thích, thật sự không thích opera, nhưng vô trong đó là bắt buộc phải hát opera. Hát loại nhạc ...
    Más Menos
    22 m
  • Những con số 3 oan nghiệt trong vở opéra Carmen
    Dec 27 2025
    Trước khi trở thành một trong những vở opéra nổi tiếng nhất nhờ một giai điệu quen thuộc, quyến rũ và nóng bỏng, Carmen của nhà soạn nhạc người Pháp Georges Bizet từng bị một « cái dớp » : Bị khán giả la ó trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên, rồi tác giả đã qua đời sau vỏn vẹn 33 lần vở kịch được diễn xuất. Bizet chết trẻ và không hề biết ông là cha đẻ của một tuyệt tác từng làm siêu lòng những nhạc sĩ bậc thầy như Tchaikovsky, Brahms. Riêng triết gia người Đức Friedrich Nietzsche thì từng thú nhận Carmen đã giúp ông trở thành một con người tốt hơn ! Carmen lấy cốt truyện từ một sáng tác cùng tên của nhà văn Pháp Prosper Mérimée. Vai nữ chính là cô Gypsy - bohémienne nóng bỏng, đầy ma lực quyến rũ chàng hạ sĩ Don José, để rồi rơi vào vòng tay của hiệp sĩ đấu bò Escamillo. Vở nhạc kịch mang tên cô gái làm nghề quấn thuốc lá trong một nhà máy ở Sevilla vùng Andalucia, miền nam Tây Ban Nha này do nhà hát Opéra Comique Paris đặt hàng với Georges Bizet và ông đã vất vả lắm mới hoàn tất tác phẩm này. Để chiều lòng ca sĩ chính, người thủ vai Carmen, Bizet đã phải viết lại đến 13 lần nhạc khúc hát nổi tiếng nhất trong vở kịch « L’Oiseau est un enfant rebelle ». Con số 3 xui xẻo Cũng đã vất vả lắm giữa rất nhiều công việc để tìm kế sinh nhai, Bizet mới tìm được thời gian và một không gian thích hợp để sáng tác nhưng để rồi chỉ nhận lấy những lời chê bai và thu về những thất vọng sau buổi ra mắt công chúng Paris đầu tiên ngày 03/03/1875. Có lẽ ngày Ba Tháng Ba không mang lại may mắn cho Bizet. Bị giới phê bình bài xích tột độ, khán giả tẩy chay vì một nàng Carmen vượt ra ngoài lễ giáo, dám phản bội người tình, dám tự do yêu đương, không phù hợp với hình ảnh tuyệt vời của người con gái chung thủy, dịu dàng, nhà hát Opéra Comique thường xuyên vắng khách vì Carmen … Bizet vốn đã túng thiếu lại càng phải bươn chải nhiều hơn, soạn nhạc nhiều hơn để bù đắp vào lỗ hổng tài chính vì … Trái tim tan vỡ Làm việc đến kiệt sức, Georges Bizet qua đời sau một cơn đau tim ngày 03/06/1875, đúng vào buổi vở Carmen được trình diễn lần thứ 33, thọ 36 tuổi … Lại là những con số Ba định mệnh! Vào lúc Bizet trút hơi thở cuối cùng ở Bougival cách Paris hơn 20 km, thì trên sân khấu Opéra Comique, lần thứ 33 nhập vai Carmen, nữ diễn viên chính Célestine Galli – Marié ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, như bị ma nhập, bà la khóc và nói Bizet đã từ trần ! Vienna, bệ phóng cho một vở opéra của Pháp Vào lúc mà khán giả Paris khinh rẻ vở opéra tâm huyết của Georges Bizet thì Carmen lại được khán giả của thành Vienna, Áo, nồng nhiệt chào đón. Hình ảnh một phụ nữ yêu hết mình, không cho phép ai – kể cả người tình chà đạp, rẻ khinh, một người đàn bà không khuất phục trước cái chết … Sức mạnh của Carmen đã hoàn toàn chinh phục giới phê bình và khán giả Vienna trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên ngày 23 tháng 10 cùng năm 1875. Lại một lần nữa con số 3 xuất hiện. Từ đó Carmen chắp cánh bay xa từ Roma đến Luân Đôn và sang mãi đến tận New York hay Matxcơva, Saint Petersbourg … Nhà soạn nhạc người Nga Tchaikovski báo trước « chỉ trong 10 năm, Carmen sẽ là vở opéra ăn khách nhất hành tinh ». Nhạc sĩ dương cầm và cũng là một nhà soạn nhạc nổi tiếng của trường phái lãng mạn Johannes Brhams đã 20 lần đi xem và nghe tuyệt tác của Brizet. … Carmen đã nhiều lần được được dựng thành phim, mà một trong những người đầu tiên đưa tác phẩm này của Georges Bizet đến với nghệ thuật thứ Bảy là danh hài Charlie Charplin năm 1915. Bản La Habanera cũng đã vượt thời gian, cả ngàn lần, cả chục ngàn lần là nhạc nền cho các thí sinh tại các cuộc thi đấu quốc tế ở những thể loại từ vũ ba lê đến trượt băng nghệ thuật hay ba lê dưới nước … Từ năm 1994 bản nhạc này không thể thiếu trong mỗi lễ trao giải đua xe Công Thức 1. Biểu tượng của tự do và sức sống Làm sao có thể giải thích thành công này ? 150 năm sau buổi ra mắt đầu tiên vở kịch này, nhà phê bình Eric Emmanuel Schmidt giải...
    Más Menos
    10 m
  • Morris West và những câu chuyện về ba vị giáo hoàng
    Dec 26 2025
    Tác giả người Úc Morris West (1916 – 1999) là một nhà văn tài năng xuất chúng. Ông đã viết hàng chục cuốn sách được đánh giá cao, đạt được thành công quốc tế và đã được dịch sang 27 ngôn ngữ. Sách của ông vẫn được tái bản, chủ yếu bằng tiếng Anh. Trong khoảng thời gian từ 1959 đến 1963, ông làm việc ở Vatican với tư cách là phóng viên cho tờ London Daily Mail. Kiến thức mà ông có được trong thời này này về hoạt động và nội bộ Vatican đã được phản ánh trong các tiểu thuyết của ông. Đặc biệt trong bộ ba tiểu thuyết « The Shoes of the fishman » (1963), « The Clowns of God » (1963) và « Lazarus » (1990). ----- ***** ----- Giorgio càu nhàu vẻ không vui rồi nhét tiền vào túi. « Mẹ tôi muốn tôi làm linh mục. Có lẽ bà ấy đúng. » - Linh mục cũng có vấn đề của họ, Kiril nhẹ nhàng nói. Ngay cả Giáo hoàng cũng có vài vấn đề, tôi nghe nói vậy. « Giáo hoàng ư ! Thật buồn cười ». Người bán báo thốt lên, vốn là người bán tin tức, nên cũng có quyền bình luận về nó. « Lần này họ đã thực sự làm chúng ta say mê. Một người Nga ở Vatican ! Có chuyện để kể cho anh nghe đây ! » Anh ta trải tờ báo lên bàn và chỉ tay một cách đầy ẩn ý vào bức chân dung Giáo hoàng chiếm gần nửa trang nhất. « Nói cho tôi biết liệu ông ta có phải là một người kỳ quặc để gán cho người Roma chúng ta không. Nhìn khuôn mặt đó và… » Anh ta ngừng lại và nhìn chằm chằm vào khuôn mặt râu ria của người mới đến. Giọng anh ta nhỏ dần, nhỏ dần. « Dio ! » Trông anh giống hệt ông ta. - Tôi là Giáo hoàng, anh nói với họ, và họ há hốc mồm nhìn anh như thể anh là một bóng ma. - Tôi không tin, Giorgio nói. Trông anh giống hệt ông ấy. Chắc chắn rồi ! Nhưng anh lại ngồi đây không một lira trong túi, uống cà phê, mà cà phê thì chẳng ngon chút nào. - Nó còn tốt hơn những gì tôi nhận được ở Vatican. ----- ***** ----- « Đôi giày của người ngư phủ – The Shoes of the fishman » Trên đây là trích đoạn từ tiểu thuyết « Đôi giày của người ngư phủ – The Shoes of the fishman » (1963) của nhà văn người Úc Morris L. West (1916-1999). Câu chuyện này cũng được đạo diễn Michael Anderson dựng thành phim vào năm 1968 với diễn viên Anthony Quinn trong vai giáo hoàng Kiril. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh đạt đến đỉnh điểm, Kiril Pavlovich Lakota, Tổng giám mục Lviv, Liên Xô, bất ngờ được trả tự do sao 20 năm trong trại lao động ở Siberia bởi cựu quản giáo Piotr Ilyich Kamenev. Ông được sai đến Roma và được phong hồng y. Rồi Giáo hoàng đột ngột qua đời. Và tiến trình mật nghị bầu giáo hoàng mới bắt đầu. Hồng y Lakota tham gia với tư cách là một cử tri. Sau bảy vòng bỏ phiếu không kết quả, Lakota bất ngờ được bầu làm giáo hoàng và ông miễn cưỡng chấp nhận, lấy hiệu là Kiril. Trong khi đó, thế giới đang bên bờ vực chiến tranh hạt nhân do mối thù Trung-Xô, càng trở nên trầm trọng hơn bởi nạn đói do mất mùa lan rộng ở Trung Quốc. Tối hôm sau khi đắc cử, giáo hoàng Kiril lẻn ra khỏi Vatican để vi hành thành Roma trong trang phục của một linh mục bình thường. Và xảy ra chuyện như ta thấy ở trên. Trong những năm tháng trong trại, Kamenev là người thường xuyên thẩm vấn giám mục Kiril Lakota. Vào cuối thời gian cải tạo, Kamenev đã được thăng tiến và quyết định bí mật thả Kiril với ý định đòi tiền chuộc vào một thời điểm trong tương lai. Khi Kiril Lakota trở thành Giáo hoàng, Kamenev đã liên lạc với ông và nhờ giúp đỡ về các vấn đề quốc gia. Nhờ thế, giáo hoàng đắc cử trở về Liên Xô trong trang phục thường dân để gặp riêng Kamenev và chủ tịch Bành của Trung Quốc để thảo luận về cuộc khủng hoảng đang diễn ra. Giáo hoàng Kiril nhận ra rằng nếu những bất ổn ở Trung Quốc tiếp diễn, cái giá phải trả có thể là một cuộc chiến tranh tàn phá thế giới. Trong lễ đăng quang, Kiril đã cởi bỏ vương niệm của mình và cam kết bán tài sản của Giáo hội để giúp đỡ người dân Trung Quốc, trước sự hân hoan của đám đông tại Quảng trường thánh Phê-rô. Hành động mang tính cách mạng này mang đến cho thế giới một ...
    Más Menos
    10 m
  • Cuộc sống tăm tối của phụ nữ Afghanistan qua phóng sự ảnh của Sandra Calligaro
    Dec 19 2025
    Ngày 15/08/2021, quân đội Mỹ rút đi, phe Taliban giành lại chính quyền ở Afghanistan, hai mươi năm sau khi bị lật đổ. Sau những năm tháng tương đối tự do, người dân tại quốc gia Trung Á này lại sống dưới một chế độ vô cùng hà khắc, nhất là đối với nữ giới: Trẻ em gái bị loại khỏi giáo dục trung học, phụ nữ khi ra ngoài phải che kín từ đầu đến chân, thậm chí trên đường phố không được nói chuyện với nhau. Họ gần như bị xóa bỏ khỏi không gian công cộng. Cuộc sống tăm tối của phụ nữ Afghanistan ngày nay đã được nữ phóng viên nhiếp ảnh người Pháp Sandra Calligaro ghi lại trong một phóng sự ảnh được trưng bày gần đây tại Pháp. Năm 2007, Sandra Calligaro mới 25 tuổi và đang làm thêm tại một quán bar trong thời gian học nghệ thuật và nhiếp ảnh. Ước mơ của cô là trở thành một phóng viên kỳ cựu và đưa tin về các quốc gia đang có xung đột. Khi biết một người bạn phóng viên sẽ đi Afghanistan, Sandra đã xin đi theo. Một tháng rưỡi sau, cô phóng viên trẻ người Pháp đặt chân đến Kabul. Rồi vì say mê đất nước này, Sandra đã sống ở đó mười năm, trước khi trở lại Paris, nhưng vẫn thường xuyên đi lại giữa Pháp và Afghanistan. Người nữ phóng viên nhiếp ảnh này đã quyết định ghi lại cuộc sống thường nhật của người dân Afghanistan, nhất là của phụ nữ, dưới ách thống trị của Taliban. Sau khi đoạt Giải thưởng Françoise Demulder ( tên của phóng viên nhiếp ảnh chiến trường người Pháp ) vào năm 2024, Sandra Calligaro đã một lần nữa tham gia triển lãm tại Liên hoan ảnh báo chí quốc tế Visa pour l'image ở thành phố Perpignan, miền nam nước Pháp, đầu tháng 9/2025. Loạt ảnh được trưng bày có tựa đề “Afghanistan: Dưới Bóng Cờ Trắng”. Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Visa pour l’image ngày 03/09/2025, Sandra Calligaro cho biết: “Tôi đã làm việc ở Afghanistan hơn 15 năm, với thời gian sống ở đó là khoảng mười năm. Giờ đây, tôi vẫn thường xuyên đi lại giữa hai nước Pháp và Afghanistan. Cho đến bây giờ, tôi luôn muốn ghi lại những hình ảnh về toàn bộ xã hội Afghanistan, cả nam lẫn nữ. Nhưng đúng là từ khi Taliban trở lại, tôi nhấn mạnh hơn một chút về những người phụ nữ đang sống một cuộc sống thường nhật như bị giam cầm. Đó là điều cần thiết và quan trọng. Chính sách đàn áp đã được thực hiện từng bước khá nhanh chóng. Khi Taliban trở lại nắm quyền vào năm 2021, không phải mọi thứ đều bị dừng lại cùng một lúc. Đầu tiên, các trường học bị đóng cửa đối với các bé gái đã qua tuổi dậy thì. Sau đó phụ nữ bị cấm vào các công viên, rồi các tiệm làm đẹp cũng bị đóng cửa. Hàng loạt biện pháp như vậy đã được áp dụng trong nhiều tháng sau đó. Trước sự đàn áp này, trước những sắc lệnh ngày càng hạn chế quyền tự do, tôi muốn cho thấy phụ nữ Afghanistan đang kháng cự như thế nào.” Tuy Afghanistan nay sống dưới chế độ hà khắc của Taliban, nhưng do cũng là phụ nữ nên Sandra Calligaro có phần nào dễ dàng tiếp cận những người mà nay hầu như chỉ sống trong không gian hạn hẹp của những căn nhà, căn hộ: “Hiện nay, làm việc ở Afghanistan hay đi đến nước này là rất khó khăn. Nhưng mặt khác, vì tôi là phụ nữ và hầu hết phụ nữ nay phải sống trong nhà, cho nên gặp gỡ trò chuyện với họ thực sự là khá dễ dàng. Hầu hết các bức ảnh chúng ta thấy trong triển lãm này đều được chụp trong nhà. Tôi muốn cho thấy sự phân đôi của xã hội Afghanistan thông qua các bức ảnh, với một không gian công cộng, không gian bên ngoài chủ yếu dành cho đàn ông và một không gian bên trong, nơi mà phụ nữ phần nào được tự do hơn một chút vì không bị quấy rầy. Những người phụ nữ, những cô gái trẻ mà tôi gặp đều có những cảm xúc khác nhau, vừa chán nản, vừa cam chịu và nhưng cũng vừa hy vọng. Đó chính là điều tôi muốn thể hiện trong loạt ảnh này: Trong nỗi tuyệt vọng tột cùng, chúng ta vẫn thấy rất nhiều hy vọng, hoặc ít nhất không chỉ là sự cam chịu, mà là rất nhiều sự chống chọi, rất nhiều sự thích nghi. Tôi muốn ghi lại ...
    Más Menos
    9 m
  • Hom Nguyen : Tỏa sáng trong hội họa từ khó khăn tuổi thơ
    Dec 12 2025
    Charles Aznavour có vị trí đặc biệt trong cuộc đời của họa sĩ Hom Nguyen và mẹ của ông, một phụ nữ Việt đến Pháp sau năm 1954. Họ đều là người nhập cư "với những khó khăn, nhưng có một khát khao, một chút điên rồ, giống như Aznavour", ca sĩ gốc Armenia. Năm 2024, chính Hom Nguyen vẽ bộ tem cây cổ thụ làng nhạc Pháp nhân 100 năm ngày sinh. Ngày 05/10/2025, toàn bộ bẩy tác phẩm, dụng cụ sáng tác của nghệ sĩ sinh năm 1972 được đưa vào bộ sưu tập cố định của Bảo tàng Bưu Chính (Musée de la Poste). Bưu điện cũng giữ một vị trí quan trọng đối với mẹ của Hom Nguyen. Ông kể lại trong cuốn tự truyện Ma vie d’Hom (Cuộc đời của Hom, NXB Robert Laffont, 2025) : “Thư từ là sợi dây liên lạc duy nhất giữa bà với gia đình ở Việt Nam. Mỗi tháng một lần, bà viết thư cho anh trai trên những tờ giấy rất mỏng để tiết kiệm bưu phí…” (tr. 95). “Mẹ” là người “truyền cảm hứng” cho thành công của một Hom Nguyen ngày nay. Bà đẹp, là người nhập cư không nói tiếng Pháp, làm mẹ đơn thân, bà bươn trải để nuôi con nhưng số phận lại buộc bà nằm liệt giường quá sớm, khiến cậu con trai trở nên “già trước tuổi”, phải nói dối và dối lòng mình để tự “vẽ” ra một điều kiện sống bình thường như những người khác : (…) Tôi từng đến những bữa tiệc nơi những người giàu có hơn tôi kể về cuộc sống tuyệt vời của họ. Tôi từng khốn khổ, nhưng tôi không muốn thừa nhận ; tôi ghét bị phán xét. Vì vậy, tôi đã phải dùng đến những lời nói dối, chỉ để tồn tại như họ”. (tr. 85) Hội họa đã giúp Hom tìm được tự do, tìm được khoảng trời riêng để trút tâm sự, để thoát khỏi thế giới thực. Từ tự học, mày mò phát minh những kỹ thuật mới, không ngại mạo hiểm, Hom Nguyen tạo được phong cách riêng “táo bạo, giàu cảm xúc”, “nổi tiếng với phong cách bốc đồng và những bức chân dung khổ lớn, nắm bắt được chiều sâu cảm xúc của con người thông qua màu sắc”, theo đánh giá của trang Artsper. Và để có được thành công này, theo Hom : “May mắn không tồn tại ; tôi là sự kết hợp của ý chí, tham vọng và sự chăm chỉ”. (tr. 180) RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn họa sĩ Pháp gốc Việt nhân dịp anh ra cuốn tự truyện La Vie d’Hom (Cuộc đời của Hom). RFI : Trong cuốn tự truyện La vie d’Hom (Cuộc đời của Hom), anh không ngại kể lại những khó khăn, vất vả, kể cả những “tội lỗi” nhỏ thời niên thiếu. Nhưng chính những trải nghiệm và cuộc sống đó đã làm anh nhân văn hơn, dễ thấu hiểu những người yếu thế hơn. Trong cuốn tự truyện, anh cũng trích dẫn một câu nói của mẹ anh là “phải tự vạch con đường cho mình và đừng dừng lại”. Anh đã tìm con đường đó như thế nào ? Hom Nguyen : Trước tiên, tôi nghĩ là chúng ta không thể dừng lại. Tôi bắt đầu từ nguyên tắc đó, với lời khuyên của mẹ tôi : “Hãy tự vạch con đường cho mình và đừng dừng lại, con bị dồn vào chân tường nhưng con vẫn phải đi, phải luôn tiến lên phía trước”. Tôi nghĩ mẹ tôi nói đúng bởi vì nếu do dự thì chúng ta bị dừng lại. Và tôi đã không do dự. Mẹ tôi và tôi đã trải qua quá nhiều khó khăn nên đối với bà, việc tiến lên phía trước và không bao giờ dừng lại là điều thực sự quan trọng. Mẹ tôi đã truyền cho tôi khát khao và động lực đó, vượt qua khuyết tật của bà, bởi vì bà bị liệt nửa người. Bà đến Pháp lành lặn, sau đó bị tai nạn ô tô. Có lẽ qua tai nạn đó, qua những vết thương của bà, bà đã truyền cho tôi khát khao được tiến xa hơn nữa, đưa mẹ tôi và tôi đến những nơi khác, như kiểu để có thể thoát khỏi cuộc sống lúc đó. Khi có một người mẹ khuyết tật như mẹ tôi, đáng tiếc là bà không còn nữa, thì từ rất nhỏ, mới chỉ 6-7 tuổi, tôi đã biết là có nhiều việc phải làm. Thế là khi mới 10, 12 tuổi, tôi đã trưởng thành hơn những đứa trẻ khác bởi vì tôi chăm sóc mẹ. Tôi làm những việc như tháo túi chất thải để đổ vào nhà vệ sinh, tôi xoay người mẹ để vệ sinh hàng ngày cho bà, tôi giúp mẹ ăn uống. Tất nhiên là chúng tôi ...
    Más Menos
    12 m
  • Philippe Conticini : Nghệ thuật tái tạo những kiểu bánh ngọt Pháp kinh điển
    Dec 5 2025
    Nhắc đến Philippe Conticini, giới chuyên ngành ẩm thực nghĩ tới ngay một trong những bậc thầy của nghề làm bánh ngọt : người từng được sách hướng dẫn Gault & Millau trao tặng danh hiệu Thợ làm bánh ngọt xuất sắc nhất nước Pháp vào năm 1991. Thế nhưng ít ai biết rằng, ông từng khởi nghiệp cùng với người anh trai Christian Conticini và cả hai ban đầu nổi tiếng nhờ nấu các món mặn. Sau một thời gian dài làm việc ở nước ngoài, chủ yếu tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, Philippe Conticini trở về Pháp lập công ty kinh doanh kể từ năm 2012, khai thác thương hiệu mang tên mình (Maison Conticini) và nổi tiếng trên thế giới nhờ sở trường « tái thể hiện » những kiểu bánh ngọt Pháp kinh điển : bánh ngàn lớp mille-feuilles, bánh táo tatin úp ngược, bánh su nhồi kem (éclair hay cream puffs), bánh hạnh nhân macaron, bánh bông lan madeleine, bánh nhân hạt dẻ Paris-Brest ….. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Philippe Conticini trước hết cho biết hình ảnh của nghệ thuật bánh ngọt Pháp trong mắt thực khách ở nước ngoài. Philippe Conticini : Vâng, bánh ngọt Pháp tự nhiên nổi tiếng là phức tạp cầu kỳ, phần lớn cũng vì cách làm bánh đòi hỏi nhiều kỹ năng và tay nghề, nhất là những kiểu bánh có từ nhiều thế kỷ qua. Điều này khá quan trọng, vì khi bạn muốn tái tạo một kiểu bánh ngọt « kinh điển », đã trở thành một phần của ẩm thực Pháp. Mỗi thợ làm bánh cũng nên biết đôi chút về lịch sử và truyền thống của kiểu bánh này, nắm vững các kỹ thuật cơ bản rồi sau đó mới có thể thích nghi, điều chỉnh lại theo cách làm của mình. Hầu hết các kiểu bánh được Philippe Conticici làm lại đều có khoảng 200 năm tuổi đời, chẳng hạn như kiểu bánh ngọt Saint-Honoré, từng được ông Chiboust tạo ra ở Paris vào năm 1840. Cửa hàng của ông nằm trên đường Saint-Honoré, cho nên ông lấy tên này để đặt cho bánh ngọt của mình. Saint-Honoré cũng là vị thánh phù hộ cho nghề làm bánh, nói chung. Về phần Philippe Conticici, ông cho biết vì sao ông đã chọn làm lại kiểu bánh này ? Philippe Conticini : Đây là một câu hỏi quan trọng vì nó phản ánh phần lớn sự nghiệp đời tôi. Trên thực tế, từ khi mới vào nghề, tội luôn thử nghiệm tìm tòi và có lẽ cũng vì thế, giới chuyên ngành thường xếp tôi vào thế hệ « tiên phong » thích khám phá những cách làm mới. Tôi thành danh vào năm 1995 (32 tuổi) trong làng ẩm thực quốc tế nhờ tạo ra các món ăn trong verrines, tức là hội tụ tất cả các thành phần món ăn trong một chiếc ly nhỏ (verrines), món ăn được trình bày theo nhiều lớp xếp chồng lên nhau, theo chiều dọc. Thực khách chỉ cần nhúng thìa vào ly, trộn đều mọi thành phần trước khi thưởng thức món ăn. Cách trình bày món ăn trong ly nhỏ verrine sau đó trở nên phổ biến ở khắp nơi, được nhiều đầu bếp sử dụng để giới thiệu các quầy thức ăn theo kiểu buffet. Tôi hãnh diện khi đã tạo ra món này, rồi sau đó tôi quyết định gạt món này sang một bên, có lẽ cũng vì tôi không muốn thấy tên tuổi của mình chỉ được gắn liền với chữ verrine. Mãi đến năm 45 tuổi, tôi cảm thấy đã đến lúc tôi chuyển hẳn sang nghề làm bánh ngọt. Vào thời ấy, tôi nghĩ rằng tại sao không thử làm lại những kiểu bánh ngọt kinh điển, nhất là khi một số công thức đang chìm vào quên lãng. Có thể nói là bước ngoặt quan trọng đối với tôi là vào năm 2008. Trong số các kiểu bánh tái tạo nổi tiếng của Philippe Conticini, có loại bánh nhân hạt dẻ Paris-Brest, vậy thì giai thoại đằng sau kiểu bánh này là gì và vì sao Paris-Brest lại có nhiều sức quyến rũ đến như vậy ? Nhà làm bánh người Pháp cho biết : Philippe Conticini : Tôi rất mê bánh Paris-Brest trước hết vì bánh này có praliné, một loại bột nhuyễn mềm, sánh mịn làm với hạt dẻ và hạnh nhân. Loại nhân praliné ngon tuyệt vời đối với một người hảo ngọt như tôi. Ngoài ra tôi cũng thích câu chuyện của Paris-Brest : Giai thoại kể rằng ban tổ chức vòng đua xe đạp từ Paris đến Brest đã yêu cầu một nhà làm bánh (ông Louis Durand) tạo ra một kiểu bánh mới để tặng cho ...
    Más Menos
    9 m
adbl_web_global_use_to_activate_DT_webcro_1694_expandible_banner_T1